DỊCH VỤ CÂY CẢNH TẦM NHÌN CHÂU Á - KHÔNG GIAN XANH - VĂN PHÒNG ĐẸP - KHÔNG KHÍ TRONG LÀNH - LÀM VIỆC HIỆU QUẢ

Thông Ba Lá

Thông Ba Lá

Cây trồng làm cảnh cho các công viên, vườn hoa, đường phố, biệt thự.

     Thông ba lá  phân bố rộng và rất đa dạng về hình thái và đặc điểm sinh thái. Hơn nữa, chúng là loại thực vật có nguồi gen thuộc dạng quý kiếm về cả mặt khoa học và thực tiễn.

thong-ba-la

Tên khoa học: Pinus khasya

     Cây gỗ lớn, cao 30-35m, thân thẳng tròn, vỏ dày, màu nâu sẫm, nứt dọc sâu, nhựa ít nhưng có mùi hắc. Tán cây hình trứng rộng, cành thô màu nâu đỏ. Lá màu xanh thẫm, mềm, thường dạng kim dài, xếp 3 chiếc trong 1 bẹ ở đầu cành ngắn. Nón cái non dạng trứng viên chuỳ, dài , thường quặt xuống hay hơi vạn vẹo. Vẩy quả có rốn hơi lồi, đôi khi có gai nhọn, hạt có cánh. Đầu cành ngắn đính lá thường có độ dài 1,5 cm, đính cách vòng xoắn ốc trên cành lớn.

     Cây thông ba lá ra nón vào tháng 4-5 và chín sau đó khoảng 2 năm. Nón đơn tính cùng gốc, nón cái thường chín trong 2 năm, khi chín hóa gỗ. Nón hình trứng, có kích thước: cao 5–9 cm, rộng 4–5 cm. Cuống thường cong, có chiều dài 1,5 cm. Lá bắc không phát triển. Lá noãn phát triển thành vảy, mỗi vảy có 2 hạt, hạt có cánh. Mặt vảy hình thoi, có gờ ngang nổi rõ, có rốn vảy hơi lồi.

     Ở nước ta, Thông ba lá được phân bố nhiều ở các vùng: Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang Quảng Ninh, Yên Bái (Mù Cang Chải), Lai Châu , Sơn La (Mộc Châu), Gia Lai, Đắk Lắk… Còn trên thế giời, người ta thấy Thông ba lá xuất hiện ở Trung Quốc, Lào, Bắc Thái Lan, Philippin, Myanmar và miền Đông Ấn Độ. Hiện thông ba lá đã được đưa trồng ở khắp các quốc gia  khu vực nhiệt đới trong vùng Đông Nam Á. Tại các vùng cao, Thông ba lá tái sinh tự nhiên khá tốt. Hạt thường phát tán vào mùa khô và nẩy mầm vào mùa mưa. Cây con ưa sáng và ưa ẩm. Trong tự nhiên, Thông ba lá tăng trưởng chiều cao khá nhanh ở giai đoạn trước 14-15 tuổi. Đến giai đoạn 18-25 năm tuổi, cây đạt chiều cao khá ổn định. Tăng trưởng đường kính trong giai đoạn trước 20 năm tuổi cũng cao nhất (đạt trung bình 0,9-1,1cm/năm). Thời kỳ cây đạt từ 21 đến 40 tuổi, tăng trưởng đường kính trung bình chỉ khoảng 0,52-0,61cm/năm. Trên 40 tuổi, cây tăng trưởng không đáng kể.

     Thông ba lá ưa mát, ẩm và ưa sáng. Trong tự nhiên chúng thường sinh trưởng ở các khu vực có độ cao từ 300m đến 2.700m, song thích hợp nhất là ở các độ cao từ 1.000 đến 1.500m. Ở nước ta, rừng thông ba lá mọc thuần loại chỉ phân bốở một số khu vực có độ cao trên 1.000m như  ở Lâm Đồng, Gia Lai và Kon Tum. Càng xuống thấp độ gặp của thông ba lá giảm dần, nhưng với thông nhựa lại tăng lên. Tại một số địa phương ở phía Bắc cũng có thể gặp thông ba lá mọc thuần loại hoặc hỗn giao với một số cây lá rông khác, nhưng với diện tích nhỏ và tạo thành loại hình rừng thưa lá kim. Thông ba lá thích hợp với các khu vực có nhiệt độ trung bình năm khoảng 15-20 độ C, tổng lượng mưa khoảng 2.000¬2.500mm và mùa khô ngắn. Chúng ưa đất nhiều mùn, tương đối ẩm, chua (pH 4,8-5,5), phong hoá trên đá mẹ hoa cương, gnai, phiến thạch, phiến thạch mica, sa thạch…, thoát nước tốt, quang đãng và được chiếu sáng đầy đủ. Thông ba lá không thích ứng với đất kiềm.

     Nhựa thông ba lá là một hỗn hợp phức tạp của nhiều hợp chất hữu cơ, trong đó chủ yếu là tùng hương (còn được gọi là colophan, resin) với hàm lượng thay đổi từ 65-75(-85)% và tinh dầu (turpentine oil) với hàm lượng thay đổi trong khoảng (8,5-)18-20(-30,8)%.

     Tinh dầu thông ba lá từ Tây Nguyên là hỗn hợp không màu, trong suốt, nhẹ hơn nước, có mùi thơm hắc, với thành phần hoá học chính gồm α-pinen (chiếm khoảng trên dưới 60%) và β¬pinen; các thành phần khác như ∆-3-caren, limonen, myrcen, longifolen… thường có hàm lượng nhỏ.

     Tinh dầu (turpentine oil) được dùng làm thuốc bôi, có tác dụng kích thích tại chỗ, lưu thông máu đối với bệnh viêm thấp khớp, cảm lạnh. Tinh dầu thông có tính sát trùng mạnh nên được dùng làm thuốc diệt khuẩn đường hô hấp (thuốc ho, thuốc xông họng). Tinh dầu Thông cũng là nguồn nguyên liệu trong công nghiệp hoá mỹ phẩm, sản xuất thuốc trừ sâu thảo mộc, làm dung môi trong công nghiệp sơn, vecni và công nghiệp tuyển quặng.

     Nhựa thông ba lá sau khi thu về cần loại bỏ các tạp chất vô cơ, hữu cơ (bằng cách lọc qua mặt lưới hay mặt sàng) trước khi đưa chưng cất. Khi nấu nhựa, nên cho thêm một lượng nước nhất định (bằng khoảng 20% khối lượng chung) để colophan không bị cháy. Dung tích nước và nhựa chỉ nên bằng hoặc ít hơn 60% thể tích của nồi. Sử dụng thiết bị chưng cất bằng thép không gỉ hoặc bằng đồng là thích hợp và colophan sẽ có màu vàng nâu nhạt sáng, bóng, đẹp đạt chất lượng sản phẩm mà thị trường ưa thích.

     Thông Ba Lá thường ươm  trong bầu. Cây con đem trồng ở miền Bắc khi 4-6 tháng tuổi, miền Nam 6-9 tháng; cây cao 15-20cm, đường kính cổ rễ 0,3-0,4cm, lá xanh đậm, rễ phát triển đều, không bị sâu, bệnh. Vỏ bầu bằng PE thủng đáy, rộng 6-7cm, cao 11-12cm.

     Ruột bầu tốt nhất là đất mặt của rừng thông ba lá, đất phải đập nhỏ, trộn với 1% supe lân. Nơi không có rừng thông ba lá thì lấy đất ở tầng mặt (0-30cm) trên có thực bì là cây tế guột (75%) + phân chuồng ủ với lân supe hoai mục (24%) + supe lân đập nhỏ (1%). Nên gieo hạt vào vụ thu dông hoặc mùa xuân. Hạt trước khi gieo phải xử lý, ngâm trong dung dịch thuốc tím nồng độ 0,1% (1g thuốc/lit nước) trong 30 phút, vớt ra để ráo nước, sau đó ngâm hạt trong nước 45 độ C (2 sôi + 3 lạnh) trong 6 giờ, vớt ra rửa sạch, để ráo nước, cho vào túi vải (mỗi túi khoảng 2kg hạt) ủ 3-5 ngày, hàng ngày rửa chua 1 lần bằng nước 30 độ C và thay túi cho đến khi nứt nanh 30% số hạt thì đem gieo trực tiếp trong bầu (mỗi bầu 2 hạt) hay gieo vãi trên luống đất hoặc trong nhà thúc mầm với mật độ rất dày (1kg hạt/1-3m2) để tạo cây mầm. Cây mầm mọc cao 2-3 cm (bằng que diêm) đem cấy vào bầu.

     Chăm sóc, tưới đủ ẩm, định kỳ 15-20 ngày xới phá váng 1 lần. Cây xấu tưới thúc 2-3 lần, mỗi lần 0,1kg urê + 0,1kg kali + 0,2kg lân supe hoà với 60-80 lít nước tưới cho 10m2 bầu ươm, tưới phân xong phải tưới lại bằng nước lã để rửa lá. Ngừng chăm bón trước khi trồng 1-2 tháng.

     Thông ba lá chủ yếu được trồng trên đồi núi trọc, đất trơ sỏi đá hoặc có trảng cỏ, cây bụi thấp. Nơi có thực bì cao, phát quang toàn diện, cần thiết có thể đốt; nếu thực bì thấp và thưa, không cần phát bỏ hoặc chỉ phát khu vực hố trồng.

     Các tỉnh miền Bắc nên trồng thông ba lá vào vụ thu (tháng 8-10) hoặc xuân (tháng 2-4). Từ Nghệ An trở vào nên trồng vào vụ thu. Các tỉnh miền Nam trồng vào đầu mùa mưa.

     Mật độ trồng thông ba lá: Nếu trồng lấy gỗ thì 2.500-3.000 cây/ha; trồng làm nguyên liệu giấy, bảo vệ đất 4.000 cây/ha.

     Chăm sóc rừng trồng: Thường kéo dài 3-5 năm, mỗi năm 2-3 lần phát bỏ cây bụi, dây leo, làm cỏ, xới đất, vun gốc. Rừng trồng phải trải qua 1-2 mùa sinh trưởng tỷ lệ sống mới được giữ vững, vì vậy 2-3 năm đầu phải chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật và trồng dặm.

     Thiết kế băng rộng 10-20m (băng trồng thông rộng 80-100m), trồng cây lá rộng để chống cháy rừng và hạn chế sâu bệnh phá hại.

     Nuôi dưỡng rừng thông nhựa, tuỳ theo mục đích kinh doanh và các điều kiện cụ thể khác, số lần tỉa thưa và cường độ tỉa thưa có khác nhau. Riêng kinh doanh lấy gỗ, lấy nhựa thông, số lần tỉa thưa 2-3 lần, lần thứ nhất khi cây trồng được 6-7 tuổi, lần thứ 2 cách lần đầu 4-5 năm, cường độ tỉa thưa 30-50% số cây có trong lâm phần, số cây cuối cùng giữ lại 1.000-1.600 cây/ha. Rừng thông trồng với mục đích phòng hộ chống xói mòn do nước, làm nguyên liệu giấy nhìn nhung không tỉa, chỉ chặt vệ sinh.

     Thông ba lá là nguồn tài nguyên có giá trị kinh tế và môi sinh rất cao, đặc biệt là ở Tây Nguyên và các khu vực núi cao phía Bắc. Tại Tây Nguyên, thông ba lá tái sinh khoẻ, tăng trưởng nhanh, ít bị sâu bệnh; là nguồn cung cấp nhựa và gỗ với năng suất khá cao.

     Nhu cầu về nhựa thông ba lá và các sản phẩm từ nhựa thông (tùng hương và dầu thông) trên thị trường thế giới rất lớn, ngày càng tăng và cung không kịp cầu. Theo tính toán của một số nhà kinh tế, nhu cầu về tinh dầu thông trong công nghệ hoá mỹ phẩm tăng bình quân hàng năm khoảng 3-5%, trong công nghệ chế tạo keo và các sản phẩm kết dính cũng tăng lên hàng năm khoảng 2-3%.

     Ở nước ta, để sản xuất 1 tấn giấy thường cần tới 10kg tùng hương. Dự kiến đến 2010 nếu muốn sản xuất 2,5 triệu tấn giấy cũng cần tới 25.000 tấn tùng hương (lớn gấp 7-8 lần tổng công suất của các nhà máy thông hiện có ở nước ta).

     Hiện nay, diện tích rừng thông ba lá trong tự nhiên đã bị thu hẹp, bị khai thác bất hợp lý. Tình hình trên đặt ra trước chúng ta nhiệm vụ phải bảo vệ các khu rừng thông ba lá tự nhiên sẵn có, đồng thời với việc mở rộng diện tích trồng mới và nghiên cứu khai thác, chế biến nhựa đạt hiệu quả kinh tế, xã hội cao. Nhựa thông ba lá là nguồn hàng LSNG có giá trị và có nhu câu ngày càng lớn.

Công ty cây cảnh Tầm Nhìn Châu Á – dịch vụ cung cấp cây xanh chuyên nghiệp tại Hà Nội!

Chia sẻ với bạn bè
Bình luận của bạn

0 bình luận

      Bài liên quan